80 NĂM GIÁO DỤC VIỆT NAM – NHỮNG BƯỚC TIẾN ĐÁNG TỰ HÀO
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Bộ Quốc gia Giáo dục đã được thành lập, với nhiệm vụ xây dựng một nền giáo dục hoàn toàn mới, của dân, do dân và vì dân.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nền giáo dục mới được xác lập trên các nguyên tắc tiến bộ “Dân tộc hóa, khoa học hóa, đại chúng hóa”, đỉnh cao là cuộc Cải cách giáo dục năm 1950, việc đưa tiếng Việt thành ngôn ngữ giảng dạy chính thức. Trong giai đoạn 1945-1954, phong trào Bình dân học vụ và Bổ túc văn hóa đã xóa mù chữ cho hàng triệu người, nâng cao dân trí. Bất chấp chiến tranh, hệ thống trường lớp không ngừng được mở rộng để đào tạo nên một thế hệ “Công dân kháng chiến”, nguồn nhân lực cốt cán cho công cuộc “kháng chiến, kiến quốc”.
.jpg)
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một lớp học của phong trào Bình dân học vụ.
Giai đoạn 1954-1975, dù đất nước bị chia cắt và ngập chìm trong khói lửa chiến tranh, giáo dục vẫn đạt được thành tựu nổi bật. Miền bắc đã cơ bản xóa nạn mù chữ. Cuộc cải cách giáo dục 1956 đã xây dựng một hệ thống giáo dục quốc dân hoàn chỉnh; hàng vạn cán bộ, trí thức, kỹ sư, bác sĩ, giáo viên được đào tạo, trở thành lực lượng chủ chốt xây dựng miền bắc và chi viện cho miền nam. Ở vùng giải phóng miền nam, nền giáo dục cách mạng đã chứng minh sự linh hoạt, bền bỉ, xây dựng mạng lưới trường lớp dân chủ, đào tạo cán bộ phục vụ kháng chiến.
Sau Đại thắng Mùa xuân năm 1975, tuy “Nam-Bắc đã sum họp một nhà” nhưng đất nước đối mặt muôn vàn khó khăn. Trong giai đoạn 1975-1986, thành tựu nổi bật nhất là thống nhất thành công hệ thống giáo dục quốc dân. Dù khủng hoảng, mạng lưới trường lớp vẫn được duy trì và mở rộng đến khắp các vùng miền, bảo đảm quyền học tập cho hàng chục triệu người dân; thành công trong xóa mù chữ, nâng cao dân trí; đồng thời xây dựng hệ thống đường lối, chính sách giáo dục toàn diện-kim chỉ nam cho hoạt động của ngành nhiều năm sau đó.
Trong tiến trình đổi mới và hội nhập, quan điểm “giáo dục là quốc sách hàng đầu” được cụ thể hóa mạnh mẽ. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI xác định đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, chuyển từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học; đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế quản lý. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII (2021) đặt nhiệm vụ phát triển con người Việt Nam toàn diện, xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, hiện đại, hội nhập; gắn với khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đồng thời coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, văn hóa, lịch sử và bản sắc dân tộc.
Cùng với định hướng của Đảng, hệ thống pháp luật và chính sách được hoàn thiện, nổi bật là việc ban hành Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học, Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Nhà giáo, Nghị quyết của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045… Đây là hành lang pháp lý quan trọng để vừa mở rộng cơ hội học tập, vừa nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Thực hiện chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, thời gian qua, giáo dục đã có những bước “chuyển mình” mạnh mẽ. Nổi bật là Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018, đánh dấu sự chuyển từ dạy học nặng truyền thụ sang phát triển năng lực; tăng tích hợp ở tiểu học, phân hóa ở trung học; thúc đẩy giáo dục STEM, hoạt động trải nghiệm; gắn đánh giá với năng lực thực hành. Chất lượng giáo dục có chuyển biến tích cực, Mạng lưới trường lớp được hoàn thiện; phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi duy trì vững chắc; tỷ lệ huy động học sinh tiểu học cao; các chính sách tín dụng, học bổng, hỗ trợ học sinh yếu thế, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật được triển khai đồng bộ theo hướng công bằng, bao trùm.
Giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp gắn với thị trường lao động và yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Nhiều trường đã hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp; các đề tài nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tiễn và ngày càng có nhiều cơ sở giáo dục đại học hiện diện trên bảng xếp hạng quốc tế. Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số nhất là sau đại dịch Covid-19 trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm, góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập, quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục.
.jpg)
Buổi học ngoại khóa của các em học sinh Trường Tiểu học Thị trấn Diêm Điền, xã Thái Thụy
Đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới, giáo dục cũng đứng trước những vận hội mới để khẳng định vai trò là quốc sách hàng đầu. Trên nền tảng 80 năm thành tựu, toàn ngành cần tập trung tổ chức thực hiện quyết liệt Kết luận số 91-KL/TW về tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Sự nghiệp giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Với sự lãnh đạo sáng suốt, nhất quán của Đảng, sự quản lý thống nhất, hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước, sự đồng hành của các tầng lớp nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp cùng tinh thần trách nhiệm, lòng tận tụy và khát vọng đổi mới của đội ngũ nhà giáo, chúng ta có đầy đủ căn cứ để tin tưởng vào những bước tiến mới vững chắc.
Tiếp tục kiên định mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển giáo dục bao trùm, công bằng, chất lượng; gắn kết chặt chẽ giáo dục với khoa học công nghệ và thị trường lao động, chúng ta sẽ xây dựng thành công một nền giáo dục Việt Nam tiên tiến, hiện đại, nhân văn, đậm đà bản sắc dân tộc. Đó là nền tảng vững chắc để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, hướng tới hai mục tiêu 100 năm: Năm 2030 kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, trở thành một nước đang phát triển công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; và năm 2045 kỷ niệm 100 năm thành lập nước, trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển có thu nhập cao./.
